Tuesday, May 5, 2015

Bộ Đội Việt Cộng và Người Lính VNCH

Khi tấm ảnh này được đăng lên ở đây, nếu người lính (thủy quân lục chiến của miền Nam) này vẫn còn thì hãy cho ông nhà báo chiến trường này được gặp. Hoặc ai biết anh ấy thì xin mách mối giúp. 
 
Hình ảnh hai người lính của hai chiến tuyến
Nếu những kẻ lảnh đạo CS Bắc Việt chỉ cần có tâm hồn và niềm suy tư rất chân tình như hai người lính này . Có lẽ nước Việt Nam chúng ta bây giờ không sa sút thua xa Hàn Quốc- Nhật Bản một cách thê thê thảm như bây giờ ! 

Họ là hai người lính ở hai bên chiến tuyến. Một người là bộ đội miền Bắc, người kia là lính thủy quân lục chiến của miền Nam.

Khoảnh khắc được ông Chu Chí Thành, phóng viên ảnh của Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), ghi lại vào tháng 4-1973
Cả hai cùng đóng quân tại vùng ranh giới Long Quang, xã Triệu Trạch, huyện Triệu Phong, Quảng Trị.
Trong một buổi chiều tạm yên tiếng súng, họ cùng choàng vai nhau chụp chung một bức hình kỷ niệm.
Khoảnh khắc này được ông Chu Chí Thành, phóng viên ảnh của Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), ghi lại vào thời điểm tháng 4-1973. Hơn 40 năm sau, tác giả bức ảnh đã cất công đi tìm lại nhân vật của mình...

Tấm ảnh lịch sử

Ông Chu Chí Thành nay đã ngoài tuổi thất tuần, vẫn còn rất minh mẫn. Trong ngôi nhà có phần cũ kỹ của ông ở một con hẻm trên đường Minh Khai (Hà Nội), rất nhiều bức ảnh về cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam - Bắc được ông trưng bày.
Nằm ngay ở vị trí trang trọng nhất trong phòng riêng của ông là bức ảnh được phóng khá to về hai người lính khoác vai nhau - một người mặc quân phục bộ đội giải phóng, người còn lại mặc quân phục thủy quân lục chiến của quân đội Việt Nam cộng hòa. Sau lưng hai người là trảng cát rộng của vùng giới tuyến trải dài hơn 2km.
Ông Chu Chí Thành trầm ngâm một lúc lâu như để lục lại ký ức về khoảnh khắc này hơn 40 năm về trước. “Lúc đó, tôi cùng anh Trần Mai Hưởng, cũng là phóng viên của TTXVN, đến chốt Long Quang. Thật bất ngờ về tất cả những gì đang diễn ra ở đây” - ông Thành nói.
Đó là thời điểm tháng 4-1973, tức chỉ khoảng hơn một tháng sau ngày hiệp định Paris được ký kết. Chiến sự được tạm dừng ở vùng ranh giới hai miền. Ông Thành vẫn nhớ rất rõ thời điểm ông đến chốt Long Quang, ở hai bên ranh giới vẫn chĩa súng về phía nhau.
Tuy nhiên, đến buổi chiều thì mọi chuyện hoàn toàn thay đổi. Một nhóm bộ đội miền Bắc ra vẫy tay gọi í ới vào chốt của quân đội miền Nam ở bên kia ranh giới, mời mấy anh em qua bên này uống nước chè xanh.
Tôi cứ ngỡ là chuyện đùa. Nhưng mấy phút sau một nhóm bốn năm người lính cộng hòa kéo dây ranh giới để qua chốt của quân giải phóng” - ông Thành kể chậm rãi.
Hai bên bắt tay, chia nhau chén nước chè xanh, hút chung điếu thuốc lá Điện Biên và cùng trò chuyện cười đùa. Những người lính phía miền Nam nói giọng miền Nam cũng mang sang một chai rượu nếp đen làm quà cho bộ đội miền Bắc.
Một anh lính thủy quân lục chiến thấy ông Chu Chí Thành cầm máy ảnh nên gọi: “Nhà báo ơi, chụp cho tôi với anh bộ đội giải phóng tấm hình kỷ niệm”.
Nói rồi, hai người lính đến khoác vai nhau tươi cười hồn nhiên. Bấm xong mấy bức hình, ông Thành đứng trân người đến mức quên mất chuyện hỏi tên tuổi của hai người lính.
“Cách đó mấy cây số về phía nam súng vẫn đang nổ, nhưng tại điểm ranh giới này họ nói chuyện với nhau rôm rả, không giống những người lính ở hai bên chiến tuyến. Nhìn cái cách mà hai người lính ấy choàng tay nhau, tôi biết rằng ngày đất nước thống nhất đã sắp đến” - ông Thành xúc động.

Tìm người trong ảnh

Ông Thành ở vùng giới tuyến giai đoạn này hơn ba tháng mới về Hà Nội. Từ lúc chụp bức ảnh tại chốt Long Quang cho đến khi về rửa phim, tráng ảnh xong, ông mới sững người vì đã quên hỏi tên của hai người lính đó.
Tấm ảnh được ông giấu kỹ cho đến năm 2007 mới công bố. Ông đặt tên cho tấm ảnh là Hai người lính. Dù ảnh đã có tên, nhưng ông Thành nói vẫn cứ luôn canh cánh trong lòng một nỗi niềm. Ông thấy mình như còn mắc nợ vì cái sự “quên” đáng trách đó nên quyết đi tìm thông tin về hai người lính.
Ông mang tấm ảnh tìm đến những người bạn từng chiến đấu tại chiến trường thành cổ Quảng Trị giai đoạn từ 1972-1973 để hỏi. Hết người này đến người khác đều lắc đầu. “Ai cũng nói chiến tranh bom đạn ác liệt, chỉ những người cùng tiểu đội mới biết nhau. Có người cùng đơn vị chưa kịp hỏi tên nhau đã hi sinh”.
Cách đây mấy năm, ông có quen một nữ phóng viên, ông cũng đưa tấm ảnh cho cô này nhờ đưa lên mạng Internet để “may có người biết”.
Tính đến khi chúng tôi tìm gặp ông, đã hơn 40 năm sau khoảnh khắc ấy và cũng đã hơn chục năm ông tìm kiếm, nhưng vẫn vô vọng.
Gặp chúng tôi, ông cũng không quên gửi gắm nỗi lòng của mình, có cách gì tìm giúp ông. Và chúng tôi đã cất công đi tìm. Thật may mắn, trong khi tìm về điểm chốt Long Quang (Quảng Trị) ngày ấy, chúng tôi đã gặp được một manh mối.
Ông Phan Tư Kỳ, nguyên là xã đội trưởng xã Triệu Trạch thời điểm năm 1972-1973, xem kỹ bối cảnh tấm ảnh rồi dẫn chúng tôi ra lại đường ranh giới hai miền giữa trảng cát năm nào để xác định vị trí nơi ra đời tấm ảnh.
Đây là vị trí mà vào thời điểm sau hiệp định Paris, trung đoàn 48 thuộc sư đoàn 320 đóng quân. Nhưng có đến năm đại đội thuộc hai tiểu đoàn được rải quân theo từng nhóm đóng chốt dọc theo đường ranh giới dài hơn 2km.
“Tôi chỉ biết chừng đó. Không thể nhớ được là người trong ảnh thuộc đại đội nào” - ông Kỳ lắc đầu.
Ông Lê Vũ Bằng, nguyên ủy viên Ủy ban xã Triệu Trạch, phụ trách binh vận tại chốt Long Quang thời điểm đó, dù “thấy quen quen” nhưng cũng không nhớ là ai. Liên lạc với một số cựu binh thuộc trung đoàn 48 thời điểm ấy tại Quảng Trị nay ở Hải Phòng, Thanh Hóa, Thái Bình, chúng tôi cũng chỉ nhận được những cái lắc đầu.

Đã tìm được người bộ đội

Trời Quảng Trị trở gió bấc khi dịp kỷ niệm 40 năm ngày đất nước thống nhất đến gần. Cuộc điện thoại ngắn ngủi thông báo cho ông Chu Chí Thành về kết quả tìm kiếm không được như ý vừa dứt trong tiếng thở dài tiếc nuối, thì một cuộc điện thoại khác bất ngờ đến.
Điện thoại từ ông Phan Tư Kỳ. “Có manh mối rồi. Ngày mai có một đoàn cựu binh C5 (đại đội 5, tiểu đoàn 2, trung đoàn 48) ở Thạch Thất (Hà Nội) sẽ ghé về Long Quang thăm chiến trường xưa” - ông Kỳ reo lên.
alt

Ông Chu Chí Thành - nguyên chủ tịch Hội Nhiếp ảnh Việt Nam, nguyên phóng viên ảnh TTXVN, tác giả của bức ảnh Hai người lính - trước hội trường Thống Nhất, TP.HCM chiều 26-4 - Ảnh: Thuận Thắng

Đúng 9g sáng 21-4, chiếc ôtô chở đoàn cựu binh vừa đến Long Quang, ông Phan Tư Kỳ mang theo bức hình của chúng tôi chạy ra đưa cho đoàn. Hơn 20 người lính C5 chuyền tay nhau bức ảnh và lục lại ký ức hơn 40 năm trước. Ai cũng nói thấy người bộ đội trong bức ảnh quen mặt nhưng không nhớ là người nào.
Trong buổi trưa cùng ngày, bức ảnh được những cựu binh này chuyển đi khắp tất cả các ban liên lạc của trung đoàn 48 tại các tỉnh thành trong cả nước qua đường Internet. Đúng 16g40 cùng ngày, một cuộc điện thoại lạ bất ngờ đến. Đó là ông Đỗ Bê, nguyên là đại đội trưởng đại đội 5, tiểu đoàn 2, trung đoàn 48.
Ông Bê khẳng định người trong bức hình chính là lính của đại đội mình năm ấy. Để chúng tôi chắc chắn, ông Bê nối điện thoại cho chúng tôi gặp ông Đỗ Thành Chấm, là một người lính của đại đội 5.
Ông Chấm khẳng định người bộ đội trong bức hình này là bạn thân của ông từ thời niên thiếu ở thôn 2, Kim Quan, Thạch Thất, Hà Nội, tên là Dương Minh Sắc, sinh năm 1954. Hai người nhập ngũ cùng ngày và ở cùng đơn vị nhiều năm.
Tuy nhiên, ông Chấm thở dài: “Tiếc là Sắc đã mất vì bệnh nặng cách đây mấy năm”. Lần theo địa chỉ của ông Chấm đưa, chúng tôi vào Huế tìm vợ của ông Sắc. Bà Đỗ Thị Thim, vợ ông Sắc, vào Huế sống với anh trai là một cựu chiến binh người Thái Bình hiện kinh doanh khách sạn ở đây.
Tay run run cầm bức ảnh chúng tôi đưa, bà Thim chạy vào tủ lấy ra một tập hình kỷ niệm của vợ chồng đem ra so sánh. “Đây, cái mũi và cặp mắt này thì không lẫn đâu được. Đúng là ông Sắc nhà tôi thời trẻ” - bà Thim nói.
Theo bà Thim, hai ông bà gặp nhau tại Nga khi cả hai cùng đi xuất khẩu lao động năm 1990, một năm sau thì cưới nhau và sinh con. Thời điểm bà gặp ông Sắc cách thời điểm chụp bức ảnh này đến 17 năm sau nên ngoại hình ông có nhiều thay đổi.

Nhưng những nét trên khuôn mặt này rất khó nhầm lẫn. Khi lấy nhau, ông Sắc cũng kể cho bà nghe rất nhiều về cuộc chiến ác liệt ở Quảng Trị, nhưng ông chưa một lần kể về việc chụp bức ảnh này.
“Những ngày ở Nga ông ấy cũng hay kể chuyện chiến trường. Có lúc kể về giai đoạn sau hiệp định Paris mới thấy ông vui hơn một chút. Bởi khi đó, lính hai bên tại vùng giáp ranh qua lại với nhau rất bình thường. Văn công về biểu diễn bên này thì cũng gọi lính bên kia qua xem chung” - bà Thim nói.
Năm 2008, tức gần một năm trước khi mất, ông Sắc cứ nằng nặc đòi về thăm lại chiến trường xưa Quảng Trị.
Và sau khi thỏa nguyện ước mong này, ông qua đời. “Chồng tôi chỉ có hình ảnh từ thời điểm năm 1990 trở về sau. Khi đó anh Sắc đã 37 tuổi. Không ngờ anh lại còn một hình ảnh ở tuổi 20 như thế này” - bà Thim nói.

Mong tìm được người còn lại trong bức ảnh

Vậy còn người lính Việt Nam cộng hòa trong bức ảnh là ai? Chúng tôi tìm gặp ông Nguyễn Lai, từng là lính địa phương của quân đội Việt Nam cộng hòa đóng tại vùng ven thị xã Quảng Trị thời điểm năm 1972-1973, cũng đóng quân ở xã Triệu Trạch, hiện sống tại Vũng Tàu.
Ông Lai nhớ đóng ở chốt Long Quang thời điểm đó là một đơn vị quân chủ lực thuộc lực lượng thủy quân lục chiến của quân đội Việt Nam cộng hòa. Ông Phan Tư Kỳ, nguyên xã đội trưởng xã Triệu Trạch thời điểm đó, xác nhận người lính cộng hòa trong bức ảnh thuộc tiểu đoàn 5, lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến Việt Nam cộng hòa.
“Thời điểm đó tôi cũng hay nói chuyện với lính bên đơn vị này. Họ toàn nói giọng miền Nam và nhiều người cho biết họ lớn lên từ cô nhi viện” - ông Kỳ nói.
Ông Chu Chí Thành là người vui nhất khi tìm được một người trong bức ảnh này. Ông cũng giải tỏa được nỗi niềm trong lòng mình mấy mươi năm qua. Tuy nhiên, ông vẫn rất muốn tìm lại người lính Việt Nam cộng hòa chụp chung trong bức hình đó.
“Tôi luôn xem tấm ảnh này như là biểu tượng hòa hợp của hai miền” - ông Thành nói. Khi tấm ảnh này được đăng lên ở đây, nếu người lính này vẫn còn thì hãy cho ông nhà báo chiến trường này được gặp. Hoặc ai biết anh ấy thì xin mách mối giúp. 
Quốc Nam
 
 
From: TH
 
                            Tản mạn từ một bài thơ trong ngày chiến thắng

Tôi với anh 
Hai mái đầu xanh 
Xanh như màu quân phục... 
Làng tôi sông Hồng nước đục 
Quê anh Vàm Cỏ lở bồi 
Mẹ nhớ tôi, hết đứng, lại ngồi 
Má mong anh, vào nhà, ra ngõ 
Tôi đã ngỏ lời vào một đêm trăng tỏ-Trước lúc lên đường 
Ba lô anh có kỷ vật người thương-Đêm giở ngắm trên đường hành tiến 
Người ta bảo anh đi bảo vệ quốc gia 
Người ta bảo tôi vào nam cứu nước 
Tôi và anh 
Có bao giờ tính suy mất được 
Cho bản thân mình, cho mẹ, cho em 
Chỉ nghe kèn trống nổi lên 
Người hối thúc đưa ta vào chiến trận 
Đồng quê tôi cỏ mọc xác xơ 
Nước quê anh cá chết dạt bờ 
Người con gái quê anh, quê tôi héo hắt đợi chờ 
Mình mê mải với giấc mơ bạo chúa 
Tôi và anh 
Hai mái đầu còn xanh 
Xanh như màu quân phục 
Nào...! 
Hãy khoác vai nhau ta cùng chúc phúc 
Để tôi về ngoài ấy đắp đê 
Nước Vàm Cỏ cũng đang gọi anh về 
Cùng cày cấy nuôi mẹ già anh nhé 
Mê muội qua rồi, chia tay trên lối rẽ 
Gửi cho nhau lời xin lỗi muộn màng 
Một cánh mai tươi, một nén hương vàng 
Ta về tặng cho những người đồng đội 
Ta bá vai nhau để những người kia xóa tội 
Dưới suối vàng 
Họ...! 
Chắc cũng đã ôm nhau...! 


 
Sắp đến ngày 30/4 trên các phương tiện truyền thông người ta bắt đầu tuyền truyền cho ngày chiến thắng. Chính trong những ngày này, tôi tình cờ đọc được bài thơ của một người lính đã từng cầm súng đổ máu trong cuộc chiến tranh này đi kèm một tấm hình hai người lính trẻ của hai phía đứng bên nhau. Tôi đọc bài thơ và rưng rưng xúc động. Bài thơ trĩu nặng suy tư về một thời đã qua. Cái thời mà lẽ ra người ta phải đóng băng nó lại, Cất nó vào những trang sách sử để cho các đời sau của dân tộc Việt đọc lại, suy ngẫm rút ra những kinh nghiệm quý báu từ những sai lầm của cha ông thì người ta lại trương nó ra, dùng tay vạch lại những vết thương chưa kín miệng trong tâm hồn dân tộc và làm cho vết thương lại rỉ máu. Bốn mươi năm rồi vết thương ấy chưa bao giờ kín miệng. 
Không hiểu sao đọc xong bài thơ, trong đầu tôi lại hiện lên cái lễ tiếp nhận đầu hàng của quân đội miền bắc và miền nam trong cuộc chiến tranh nam bắc Mỹ cách đây hơn hai trăm năm. Không một tiếng hò reo vui mừng của người chiến thắng. Không một tiến trống thúc. Khi những người lính miền bắc, kẻ chiến thắng định bắn các loạt đại bác chào mừng thì tướng Grant đã ra lệnh ngừng ngay những hoạt đọng chào mừng lại . Ông bảo với họ “ Chiến tranh đã kết thúc bây giờ họ là đồng bào của chúng ta” . Hai đội quân hiên ngang đứng đối mặt nhau trong con mắt họ ánh lên một sự kính trọng đối thủ. Im lặng! Một sự im lặng thiêng liêng trùm lên hai đạo quân. Đây không phải là một lễ đầu hàng . Họ! Hai đứa con Mĩ hư hỏng đánh lộn nhau và giờ đây Mẹ Mỹ choàng ôm lấy hai đứa con hư, kéo chúng vào bầu vú căng sữa của mình để mặt chúng giáp lại bên nhau, cùng hít thở mùi sữa mẹ để chúng nhận ra “ Chúng là hai anh em”. Tôi bỗng hiểu vì sao nước mĩ lại hùng mạnh đến thế và bỗng hiểu vì sao chúng ta cứ mãi mãi là một nước nhược tiểu. Nước Mĩ hùng mạnh bởi những nhà lãnh đạo Mĩ là những người có tầm cao văn hóa. Ngay sau chiến tranh, người Mĩ đã đánh tan mối thù hận giữa hai miền nam bắc. Cả nước trở thành một khối không còn cái mặc cảm của kẻ chiến bại và cũng không còn cái vui mừng của người chiến thắng. Nước Mỹ có 11 lễ hội kỷ niệm cấp quốc gia nhưng trong đó không có ngày kỉ niệm chiến thắng nam bắc Mỹ. Còn chúng ta? Những ngày tháng tư này tôi cứ nghe ra rả những lời ngợi ca chiến thắng. Chúng ta chiến thắng ư? Chiến thắng ai? Khi phảỉ nghe những lời ca ngợi ấy, trong tôi lại vang lên câu thơ của Tào Thực cách đây đã hơn một nghìn năm 
Cành đậu đun hạt đậu 
Hạt đậu khóc hu hu 
Cùng sinh ra một gốc 
Thiêu nhau nỡ thế ru 
Không! Chúng ta! Hai miền Nam Bắc đều là kẻ chiến bại. Có kẻ chiến thắng nhưng kẻ đó không phải là chúng tôi. Đó là kẻ mà ông Lê Duẩn đã nói “Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung quốc” Họ đã thắng mà không phải đổ chút xương máu nào. Họ quyết tâm chống Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng. Chao ơi! Có gì để hãnh diện! Có gì để tự hào khi mà ta, cả miền nam, miền bắc chỉ là những tên lính đánh thuê. Ta cầm súng lao vào bắn giết lẫn nhau mà chẳng biết vì cái gì 
Người ta bảo anh đi bảo vệ quốc gia 
Người ta bảo tôi vào nam cứu nước 
. “Người ta”! Người ấy xa lạ lắm chẳng liên quan gì đến anh và tôi, chẳng quan tâm gì đến lợi ích của anh và tôi . Còn tôi và anh nói như nhà thơ chế Lan Viên đều trở thành” con rối cho cuộc đời giật dây” mà là những con rối thì đã tốt. Hai chúng ta chỉ là những con tốt bị thí một cách không thương tiếc cho những giá trị mơ hồ dối trá .”Người ta” Xa lạ quá và cũng mơ hồ quá!  Ngày xưa, cách đây bốn mươi năm khi tác giả bài thơ này còn trẻ, còn bị cái chính sách ngu dân dối trá bưng bít khiến cho hai mươi triệu người dân miền bắc ai cũng nghĩ “Mình đang cứu nước” Cái “Người ta” lúc ấy gần gũi lắm, cụ thể lắm. 
Bác bảo đi là đi 
Bác bảo thắng là thắng. 
Tố hữu 
Chọn thời mà sống chăng? Anh sẽ chọn thời gian nào thế nhỉ 
Cho tôi được sinh trong buổi đảng dựng xây đời. 
Chế lan Viên 
Còn nay ! sau bốn mươi năm, khi sự thật không thể che dấu mãi làm chúng ta bừng tỉnh.Chúng ta ân hận. Một nỗi ân hận muộn màng 
Gửi cho nhau lời xin lỗi muộn màng. 
Và đấy cũng là lúc những thứ cụ thể, thiêng liêng, gần gũi ngày xưa trở nên nhòa nhạt trong chúng tôi, biến thành thứ “Người ta” xa lạ 
Anh được gì trong cuộc chiến ây ? Tôi được gì trong cuộc chiến ấy? 
Đồng quê tôi cỏ mọc xác xơ 
Nước quê anh cá chết dạt bờ 
Người con gái quê anh, quê tôi héo hắt đợi chờ 
Và cái « Người ta » xa lạ ấy đã quan tâm gì đến những mất mát đau thương của gia đình tôi và gia đình anh ? 
Hình như Đại việt sử kí toàn thư đã nhầm. Không phải là mẹ Âu Cơ mang năm mươi người con xuống biển mà là sau khi li hôn mẹ Âu Cơ mang năm mươi người con vào Miền nam còn bố Lạc Long Quân giữ năm mươi người con ở lại miền bắc . Trong sự tức giận , Lạc Long Quân đã đốt chiếc bọc chứa một trăm quả trứng thành than, rắc tro của nó xuống biển đông và bảo với các con rằng : « Từ nay, chúng nó không còn là « Đồng bào » của ta nữa » và thế là năm mươi đứa con của mẹ âu cơ với năm mươi đứa con của bố lạc long quân trở thành kẻ thù không đội trời chung. Mối hận thù tiền kiếp ấy cho đến bây giờ vẫn chưa tan. 
Có những dân tộc trong một thời điểm hiếm hoi nào đó của lịch sử, dưới sự dẫn dắt của lòng tự tôn dân tộc, và sự dối trá, lừa bịp của những kẻ cầm quyền mà trở nên cuồng tín. Khi đó gần như toàn bộ dân tộc đó trở nên độc ác và tàn bạo. Nhưng họ chỉ tàn bạo và độc ác với những người khác chủng tộc với họ còn với dân tộc họ họ vẫn là những con người mà Đức và Nhật trong đại chiến thế giới lần thứ hai là hai ví dụ diển hình. Còn chúng ta? Chúng ta độc ác với chính dân tộc mình. 
 
May mắn cho hai dân tộc đó, họ đã bại trận. Niềm tự hào man dại của họ đã buộc phải quỳ gối trước cái thiện, cái tốt đẹp của con người. Ngọn lửa ấy tắt ngấm trong tâm hồn họ để cho họ nhận ra rằng « Máu người không phải nước lã » và « Sinh mạng và phẩm giá là hai thứ trân quý nhất mà tạo hóa đã dành cho con người”. Tiếc thay dân tộc ta không có được cái may mắn của dân tộc Đức và Nhật. Chúng tôi đã chiến thắng. Chúng tôi đã chiến thắng các anh, người anh em của tôi. “Đồng bào” của tôi Và cái ngọn lửa man dại đó đã được tiếp thêm nhiên liệu để cho nó tiếp tục cháy không biết đến bao giờ. 
Đọc bài thơ này, đọc những comment trong bài thơ này, tôi lại ngậm ngùi cho số phận những người lính các anh trong những trại “Cải tạo” của chúng tôi. Dưới ánh sáng của ngọn lửa chiến thắng man dại, Cái “Người ta “ ấy đã “Cải tạo” các anh bằng cách thắp lên trong các anh một ngọn lửa hận thù. 
Tôi đọc lại bài Cáo Bình Ngô mà trong lòng bỗng nhiên ngờ ngợ. Dân tộc này kì lạ quá, rất nhân đạo với kẻ thù nhưng lại tàn nhẫn với chính mình 
Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh 
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, 
Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc, 
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, 
Chao ôi! người ta vẫn tự hào rằng “Người ta” nhân đạo. Không có cuộc tắm máu nào sau chiến thắng. Cũng đúng!  So với phát xít Hít le, với Pinôchê , với pôn pốt thì quả “ Người ta” nhân đạo hơn thật. Nhưng sao con mắt của “người ta” chỉ luôn cắm đầu nhìn xuống đám bùn đen dưới chân mình mà không ngửa mặt lên nhìn bầu trời cao lồng lộng? Hay đấy là tâm thức của văn hóa Việt? Chỉ luôn so sánh mình với những cái kém hơn. Mà ta ở đâu trong thế giới rộng lớn này? Ta ở gần đáy của nó. Đáy cách ta một gang tay, bầu trời cách ta cả ngàn cây số thế mà ta chỉ nhìn xuống dưới chân mình thì làm sao ta có thể cất mình lên . 
Đọc bài thơ tôi lại liên tưởng đến những nước Đông Âu đã bị sụp đổ. Bao nhiêu nước nhưng duy nhất có hai người bị kết án tử hình vì kẻ đó đã ra lệnh cho quân đội bắn vào đoàn biểu tình còn lại tất cả đều được tha thứ . Không một ai bị tù đầy và nó cũng là một trong những nguyên nhân khiến những nươóc đó tiến những bước dài trong kinh tế. 
Mê muội qua rồi, chia tay trên lối rẽ 
Mê muội qua chưa? Chưa qua đâu! Có thể với nhà thơ, người viết bài thơ này đã thoát khỏi cơn mê sảng nhưng sâu trong tiềm thức của bao nhiêu người dân miền bắc cái ngọn lửa hào hùng chiến thắng vẫn cháy và trong hàng triệu người miền nam ngọn lửa hận thù vẫn cháy. Và vết rạn của dân tộc vẫn cứ hiện hữu trong mỗi chúng ta. 
Bao giờ chúng ta mới có thể ôm nhau trong vòng tay mẹ Việt để cho cái ước mơ của người viết bài thơ này trở thành hiện thực. 
Ta bá vai nhau để những người kia xóa tội 
Dưới suối vàng 
Họ...! 
Chắc cũng đã ôm nhau...! 
Hà nội 8/4/2015
Vài lời xin lỗi gửi đến tác giả bài thơ. 
Tôi hứa với anh viết tặng anh một bài bình nhưng không hiểu sao những suy tư trăn trở của anh cứ lôi tôi vào những suy tư mà bài thơ anh chưa nói đến. Cho tôi xin lỗi! Nhưng một bài thơ có thể lôi người đọc vào những suy tư có lẽ đó là lời khen lớn nhất rồi phải không anh

Mất trí


Trăng Liên Xô tròn hơn trăng nước Mỹ
Đồng hồ Trung Quốc tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ

Sau ngày mất nước 30/4, Sài Gòn bị mất tên trên bản đồ, các đường phố phần lớn bị đổi bằng những cái tên lạ lẫm, gượng gạo và hỗn tạp. Không chỉ Sài Gòn và những con đường bị xóa tên mà các thành phố khác tại miền Nam cũng mọc lên những con đường, công viên, trường học, bệnh xá...với những "danh nhân" chẳng ai biết tới, tra sách vở uy tín, đứng đắn thì không có chút dấu vết.

Những tên này chỉ được ghi hoặc chú thích trong những pho sách, trang mạng "một chiều" bên Việt Nam. Mà những loại sách, thông tin này đọc chưa được hai câu đã phải xếp lại vì văn chương, ngôn từ vẫn mang đặc trưng cái lối tuyên truyền nhồi sọ rất lố, hẹp hòi thiển cận, và tuyệt nhiên không mở mang giúp ích gì cho người đọc.

Bốn mươi năm sau cuộc chiến, Sài Gòn và cả Việt Nam được những nhân vật trong ban tuyên giáo gán ghép, vinh danh hoặc tự tạo những nhân vật mất trí hão huyền, xét ra chẳng có công trạng gì cho quê hương dân tộc. Nhiều nhân vật còn mang trọng tội nữa là khác.

Đứng đầu trong danh sách này là Lê Văn Tám, cái tên hư cấu được ông Bộ trưởng tuyên truyền Trần Huy Liệu đặt cho một nhân vật thiếu niên mơ hồ, không lai lịch đã tự đốt cháy mình làm mồi đốt kho đạn của địch (ở đây chỉ Pháp) tại Thị Nghè. Ông bộ trưởng tuyên truyền sau cảm thấy mình đi quá đà, đã tạo nên một nhân vật "anh hùng dân tộc" thiếu khoa học, rất hài hước và chẳng thuyết phục được mấy người.

Một thằng bé dưới 10 tuổi, thân hình gầy còm yếu ớt, tự đốt mình rồi chạy băng mấy trăm mét vào kho đạn của Pháp để châm ngòi đốt hủy kho đạn, thì có ma nào tin cho được. Không những chuyên tạo dựng những nhân vật "thánh" mà bộ tuyên truyền còn tạo chất "nổ" kinh hoàng. Riết rồi ban tuyên giáo và cái đảng biến thành "thánh nổ", chứ chả có thông tin nào chân thật, khả tín để có thể tin được.

Lúc sắp mất Bộ trưởng tuyên truyền đã trăn trối lại với ông Phan Huy Lê, một sử gia bên Việt Nam, sau này khi có dịp nên đính chính và làm sáng tỏ vụ "thiếu niên anh hùng dân tộc" không có thật Lê Văn Tám để khỏi phải hổ thẹn với sử xanh. Lê Văn Tám được đặt tên cho công viên gần chợ Đa Kao, quận 1 của Sài Gòn. Dọc hai con đường hai bên của công viên Lê Văn Tám là đường Võ Thị Sáu và Điện Biên Phủ.

Võ Thị Sáu không biết là nhân vật như thế nào nhưng huyền thoại bà ta bị đưa ra bãi xử bắn được bộ tuyên truyền vận động thêu dệt và tô vẽ tối đa, đọc mà không khỏi gượng cười vì lối phác họa cẩu thả, ấu trĩ. Bà ta bị Tây bắt, đèo ra bãi bắn nhưng: "Vẫn ung dung mỉm cười. Ngắt một đóa hoa tươi. Chị cài lên mái tóc. Đầu ngẩng cao bất khuất. Ngay trong phút hy sinh". Thơ thì hay đấy, nhưng toàn là giả dối.

Có sách chép là Võ Thị Sáu trên đường ra bãi bắn đã ngắt một cành hoa trao tặng cho tên lính dẫn độ để nêu cao tấm gương vị tha, nhân ái của mình. Trước khi lãnh nhận phát súng từ giặc Tây, Võ Thị Sáu còn cất cao giọng để hát bài "Tiến quân ca" rồi hô to: "Việt Nam độc lập muôn năm. Hồ Chủ Tịch muôn năm". Thật là hài hước, đang viết tiểu sử của "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân", mà tay nào đã viết nhầm thành tiểu thuyết lãng mạn.

Còn Điện Biên Phủ là tên một địa danh ở phía tây bắc của Việt Nam, nơi xảy ra cuộc chiến giữa Pháp và Việt Minh năm 1954, chấm dứt sự hiện hữu của Pháp tại Việt Nam. Cái tên Điện Biên Phủ sau này bị lạm dụng phô trương cho không biết bao tên đường, sách vở tuyên truyền bên Việt Nam. Nghe cái tên Điện Biên Phủ mà cứ ngỡ đang ở Điện Âm Phủ. Rét và ngán ngẩm.

Không xa với công viên Lê Văn Tám là các con đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Duẫn. Đâu đó trong thành phố Sài Gòn xưa mọc lên những con đường, công viên với những cái tên vô duyên chẳng làm nên lịch sử như: Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Văn Trỗi, Phan Đình Giót, Hồ Thị Kỷ, Cách Mạng Tháng Tám, Đồng Khởi, Hoàng Văn Thụ, Hồ Tùng Mậu, Huỳnh Tấn Phát, Lê Hồng Phong, Lê Đức Thọ, Lê Thị Riêng, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Tất Thành...và hàng trăm tên nhân vật khác.

Hy vọng một ngày nào đó Sài Gòn được trả lại tên cũ, các con đường, công viên, trường học phố thị mang tên của một danh nhân đích thực. Chứ không phải là của những nhân vật hư cấu hoặc mất trí, đã và đang cuốn hút trong quỹ đạo đông phương đỏ.
 
DXGK/FB

WARSAW (Warszawa): VÙNG ĐẤT CỦA ANH HÙNG - HÀO KIỆT

Trên những chặng đường vác ba-lô lang thang tìm hiểu con người, văn hóa ở những vùng đất lạ, tôi đã lang thang một cách tình cờ ngang qua vùng Đông Âu và đến Ba-Lan trong một ngày cuối Xuân. Đất nước Ba Lan có hai kinh đô cũ và kinh đô mới. Kinh đô Krakow có thể xem là cố đô từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVI trong khi đó Warsaw là kinh đô mới kể từ thế kỷ XVI rất nhiều những trầm luân, oanh liệt, khói lửa. Ngày nay, Warsaw là thủ đô chính thức của nước Ba Lan.
Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin nói về thủ đô Warsaw của Ba Lan mà thôi, bởi vì nước Ba Lan khá rộng, lịch sử có quá nhiều chi tiết mà ngay chính những sinh viên chuyên ngành lịch sử của nước họ vẫn còn đôi lúc lẫn lộn. Trước khi đến Warsaw, tôi vẫn nghe những giai thoại như: ở đây giống như một Paris ở phía Đông của Châu âu, rằng ở đây có sự pha trộn văn hóa giữa Đông Âu và Tây Âu rất ngoạn mục. Đến nơi rồi, tôi càng thú vị và kinh ngạc khi thấy lịch sử của thành phố Warsaw từ cổ đại đến cận đại thật oanh liệt. Họ oanh liệt ngay từ giai đoạn phong kiến phải chống chỏi với những đế quốc lân cận muốn xâm chiếm họ, họ oanh liệt trong lịch sử cận đại chiến đấu chống Phát Xít Đức, Hồng Quân Liên Xô, và gần đây nhất, cả hệ thống chủ nghĩa Cộng Sản Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, có thể nói, đều bắt đầu từ Warsaw với Công Đoàn Đoàn Kết. 



MỘT CHÚT VỀ LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA TẠI WARSAW:
Khởi nguồn chỉ là một làng đánh cá nhỏ trong thế kỷ thứ IX và thứ X, sau đó ngôi làng phát triển dần trở thành một đô thị với thành quách, lâu đài trong thời trung cổ, trở nên một kinh đô của tiểu vương quốc Masivia vào thế kỷ XIV. Trong thời gian này, nơi đây nổi tiếng là trung tâm buôn bán với các thành phố lân cận khác qua những mặt hàng thủ công, mỹ nghệ. Từ khi bắt đầu phát triển cho đến thế kỷ XIII, thành phố này có tên là Bródno, rồi Jazdów. Từ năm 1300, thành phố mang tên Warsaw (theo đúng âm của thổ ngữ Ba Lan gọi là Warszawa). Bắt đầu năm 1526, các tiểu vương quanh vùng thống nhất trở thành một quốc gia lớn hơn. Nhà vua mới đã dời kinh đô từ Krokow về đây chính thức vào năm 1569 và Warsaw trở thành kinh đô của vương triều Ba Lan. Với chi tiết này, tôi liên tưởng đến thời mười hai sứ quân ở Việt Nam và nước Đại Cồ Việt chính thức được ra đời với vị hoàng đế đầu tiên của Việt Nam là Đinh Tiên Hoàng vào năm 968, thời đó kinh đô của nước ta là Hoa Lư (thuộc tỉnh Ninh Bình ngày nay).

Thủ đô Warsaw là thành phố lớn nhất của quốc gia Ba Lan ngày nay. Nếu tính cả khu trung tâm và những vùng phụ cận, dân số gần 2 triệu 700 ngàn người trên một diện tích hơn 500 km2. Mặc dù đã vào Liên Hiệp Châu Âu, nhưng Ba Lan vẫn còn dùng tiền riêng, hối xuất là 0.32 cents USD hay 0.25 cents Euro. Những gì du khách thấy trước mắt hiện nay với một Warsaw diễm lệ, nghệ thuật và nhất là có rất nhiều nhà thờ, tất cả đều là những gì con người phục dựng lại theo đúng nguyên bản sau Chiến Tranh Thế Giới lần thứ hai. Như đã nói, người Ba Lan hay nói cách khác, người sống ở thủ đô Warsaw rất anh dũng, họ là những người chống cự mãnh liệt với quân Phát Xít Đức trong suốt gia đoạn chiến tranh. Cũng vì vậy mà những người Ba Lan bị lính Phát Xít Đức tàn sát nhiều nhất. Những quả bom của quân đội Đức liên tục thả xuống thành phố này từ năm 1939 cho đến khi chấm dứt chiến tranh vào năm 1945, phá hủy hơn 90% thành phố. Một lý do khác nữa vì cộng đồng Thiên Chúa Giáo tại Warsaw có một sự liên lạc rất đoàn kết và rất mạnh, ngày nào tôn giáo còn tồn tại thì ngày ấy sự chống cự vẫn còn tiếp tục. Adolf Hitler cũng biết được điều này, gã hung thần của cả nhân loại này đã trực tiếp ra lệnh phá sập tất cả những ngôi giáo đường, bắt và giết sạch những vị lãnh đạo tôn giáo. Với cách này, Hitler hy vọng có thể làm đổ sập toàn bộ sự kháng cự của người dân. Những trại tù, trại cải tạo do Phát Xít dựng lên đã đưa hàng triệu người dân Ba Lan, trong đó có hàng chục ngàn những vị lãnh đạo tôn giáo và giam cầm và giết hại từ từ. Cũng xin nói thêm về đức Giáo Hoàng John Paul II được sinh trưởng tại Ba Lan, khi quân Phát Xít tràn vào tu viện nơi ngài đang là một chủng sinh trẻ. Ngài đã thoát khỏi trận càn quét đó trong gang tấc như một phép lạ. Quân đội Phát Xít đã lục tung không chừa một hang hóc nào của tu viện nơi Ngài đang tu học lúc đó, nhưng kỳ diệu thay, những tên lính lại bỏ sót một cái tủ áo, nơi Ngài đang ẩn trốn. Người dân Ba Lan và những nhà sử học vẫn cho đây là một khoảnh khắc làm nên lịch sử. Vì từ sự kiện này, khi lính Đức bỏ sót cái tủ áo có người chủng sinh trẻ trốn trong ấy, để rồi vài chục năm sau, năm 1979, con người ấy trở về thăm quê hương trong cương vị là một vị Giáo Hoàng từ Rome, chính ngài đã khơi lại lòng tự hào dân tộc của người Ba Lan, lòng yêu chuộng tự do, trong đó có tự do hành đạo, tự do tín ngưỡng... Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan như tiếp thêm sức mạnh, người giáo dân chợt sực tỉnh với truyền thống anh dũng, bất khuất của thế hệ đi trước, họ đứng lại gần nhau hơn và rồi chính Warsaw là nơi khởi đầu cho những phong trào đấu tranh chống lại chính nhà nước Cộng Sản Ba Lan thời ấy. Từ đây, những ngọn sóng cứ hừng hực bùng lên và lan tỏa ra khắp Đông Âu. Cuối cùng, kể cả thủ phủ của chủ nghĩa Cộng Sản tại Moscow – Liên Xô cũng sụp đổ hoàn toàn. Chủ nghĩa Cộng Sản tại Ba Lan sụp đổ năm 1989 (Liên Xô sụp đổ năm 1991). Cuộc sống người dân trong giai đoạn giao thời thật vô cùng khó khăn, nhưng năm 1995, Ba Lan đã ổn định và rộng cửa với thế giới bên ngoài, năm 2004, Ba Lan trở thành thành viên chính thức của Liên Hiệp Châu Âu, chấm dứt hơn tám thập niên trầm luân với sự tàn ác của chủ nghĩa Phát Xít và chủ nghĩa Cộng Sản trên đất nước và con người tại đây.
Những gì tôi trình bày ở đây chỉ là những gì rất sơ lượt về lịch sử Ba Lan, muốn tìm hiểu chi tiết hơn, xin quý vị hãy tham khảo những pho sách sử với rất nhiều chi tiết mà đất nước này đã trôi nổi, trầm luân cùng dòng lịch sử bên cạnh những đế quốc hùng mạnh từ cổ đại đến giai đoạn phục hưng, và con người đã anh dũng, bất khuất như thế nào trước những chủ nghĩa tàn ác trong giai đoạn cận đại.


THĂM TRUNG TÂM THÀNH PHỐ VÀ CÁC ĐỊA DANH:
Cũng vẫn là quy hoạch giống các thành phố cổ khác ở khắp Châu Âu, Warsaw cũng có những đền đài, cung điện quanh khu vực trung tâm, được gọi là City Centre. Tuy nhiên như đã nói, chín mươi phần trăm các công trình kiến trúc trong thành phố đều được phục dựng lại sau chiến tranh thế giới thứ 2. Hệ thống subway được nối ngang dọc các khu vực quan trọng trong thành phố. Tôi thấy rất nhiều những ngôi giáo đường cổ kính như St. John’s Catheral, Jesuit Church, St. Martin Church...Cung điện chính xem như là nơi quyền lực của các triều đại xưa. Một chi tiết rất đáng chú ý là vương triều Ba Lan trong một thời gian dài phải thần phục triều đình Nga Hoàng. Khi tra cứu, tôi vẫn bắt gặp nhiều tài liệu cho thấy vua của Ba Lan thời phong kiến là các vị Sa Hoàng, còn vương triều của Ba Lan chỉ là những vị vương. Tuy nhiên cũng có nhiều tài liệu khác phủ nhận sự ”bảo hộ” từ triều đình Nga. Họ cho biết đây chỉ là vấn đề ngoại giao, giữ thanh bình cho đất nước, người dân, một cái gì đó cam chịu vì lỡ ở cạnh một đế quốc quá hùng mạnh, sẵn sàng nuốt chửng những vương quốc nhỏ bé xung quanh. Một chút ngậm ngùi và đồng cảm cho các quốc gia nhỏ bé. Nhìn về Việt Nam, suốt mấy thế kỷ bị Bắc thuộc, tổ tiên chúng ta sau khi đánh thắng giặc xâm lược rồi nhưng vẫn phải triều cống và nhận triều đình phương Bắc là Thiên Tử, còn vua của nước ta cũng chỉ là những vị vương, muốn lên ngôi cũng phải có sự đồng ý từ phương Bắc. Qua chi tiết này mà tôi cảm thấy gần gũi với người Ba Lan hơn, chú ý quan sát và tìm hiểu họ nhiều hơn để thấy giữa hai dân tộc Ba Lan và Việt Nam, có nhiều hoàn cảnh xảy ra gần giống nhau...



THÀNH PHỐ CỦA NHỮNG THIÊN TÀI
Hai nhân vật xuất chúng của lịch sử cận đại đều xuất thân từ thủ đô Warsaw. Nếu tính theo dòng thời gian thì trước hết phải là thiên tài âm nhạc Fryderyk Franciszek Chopin. Công viên Chopin tọa lạc ở ngay trung tâm thành phố, khu vực hiện đại với nhiều dinh thự to lớn mà hiện nay được dùng làm những tòa đại sứ của nhiều quốc gia. Chopin sinh năm 1810 và mất năm 1849. Ông đã qua Paris đi học và làm việc từ năm 20 tuổi và mất tại Paris khi chỉ vừa mới 39 tuổi. Nhiều nghi vấn về bệnh tình của ông, nhưng một tài liệu nghiên cứu khá kỹ của giới sử học và y học tạm kết luận ông bị bệnh lao.

Lần theo con đường mòn nhỏ rẻ ra từ khu phố cổ, tôi vừa đi vừa hỏi thăm vì nghe nói nữ bác học Marie Currie cũng được sinh và lớn lên ở đây. Người ta nói cho tôi biết ngôi nhà của bà hiện vẫn còn và mở cửa đón du khách mỗi ngày. Chẳng mấy khó khăn, tôi đã đến gõ được cửa căn nhà, lần theo cầu thang gỗ xưa cũ để đi lên tầng hai. Cũng như thiên tài Chopin, bà Marie chỉ thật sự sáng chói trong giới khoa học và y học khi bà qua đến Paris. Ngày xưa ở Ba Lan đã không cho bà vào đại học vì thời ấy Ba Lan chỉ nhận các nam sinh viên. Tuy nhiên khi sống ở Pháp, trở thành nữ khoa học gia xuất sắc, dành hai giải thưởng Nobel, bà vẫn nhớ về quê hương và vẫn xem mình là người Ba Lan. Bà lập gia đình với một người Pháp cũng là một nhà vật lý học (ông đã nhận chung giải Nobel Vật Lý với bà); ở giải hóa học, bà đứng riêng một mình. Căn nhà nơi bà được sinh ra và lớn lên nằm khiêm tốn, bình thường trên dãy phố cổ. Nếu không để ý sẽ có thể sẽ dễ dàng đi qua. Bên trong có đầy đủ những thư từ, hình ảnh của cuộc đời nữ khoa học gia lẫy lừng thế giới này. Tôi quanh quẩn trong căn nhà gần hai giờ đồng hồ để suy nghĩ, trầm tư. Con người cũng như một gốc cây, nếu bị trốc gốc đương nhiên rất đau buồn, nhưng khi cây được đem trồng ở một vùng đất lạ, có thể cây cho trái lạ, nhưng cái lạ ấy lại là cái tuyệt vời mà nếu như cây không trốc gốc thì chẳng có gì đáng chú ý, cây cũng rồi tàn úa và chết như muôn ngàn cây khác trên một mảnh đất cằn cỗi, môi trường sống nghèo nàn, thiếu cơ hội và không được chăm sóc ...

 ẨM THỰC
Trở về khu trung tâm, nhảy lên xe, tôi cứ mở to mắt để nhìn xung quanh, nhìn những ngôi giáo đường rực rỡ, xe đưa tôi đến một khu chợ theo kiểu xưa. Món ăn của người Ba Lan chủ yếu là xúc xích, bánh mì, bánh quai vạc (pierogi), bắp cải cuộn thịt nấu sốt (bigos), bắp cải cuộn thịt hấp (golabki), soup, củ cải đỏ hầm và rượu vodkas cũng như rượu đỏ và beer làm nóng. Vì thời tiết lạnh ở Châu Âu nên những thức uống có một đặc điểm chung là được làm nóng. Đứng giữa khu chợ xưa, những gian hàng xưa được dựng bằng gỗ thô, tôi run lẩy bẩy khi móc bóp đếm tiền để mua một ly rượu nóng (hot wine). Rượu nóng rất phổ biến ở khu vực Đông âu. Công thức nấu rượu cũng đơn giản với rượu đỏ, các loại gia vị như quế, hoa hồi, bạch quả, vỏ cam, hạt dẻ, mật ong...Giữa cái rạnh run, nhấp một ngụm rượu nóng, tôi như cảm thấy cả cơ thể ấm lại đồng thời hơi ngạc nhiên vì rượu ở đây được bán tự do như ở Canada chúng ta mua café hay nước ngọt. Các quầy bán thức ăn nhanh ở những ngôi chợ làng cũng có quyền bán rượu. Tôi có hỏi vài người địa phương rằng khi chính quyền cho bán rượu tự do thì có xảy ra những vụ đánh nhau, tai nạn xe cộ nhiều hơn không, câu trả lời là không. Vấn đề bạo hành trong xã hội hoặc tai nạn giao thông vì rượu chè chưa bao giờ là lý do trong các báo cáo của cảnh sát. Dường như cộng đồng ở đây đã có ý thức và đã không lạm dụng, họ uống chừng mực, không say xỉn.

Thức ăn khá mặn
Những du khách đi cùng với tôi ai cũng than rằng thức ăn ở Ba Lan quá mặn và không hiểu tại sao. Đây cũng là một lý do mà tôi tò mò vì có thể đây là một đặc điểm văn hóa, lịch sử nào đó. Khi đã tìm hiểu, tôi biết rằng Ba Lan là một quốc gia gần như nằm lọt thỏm bên trong lục địa, chỉ một phần nhỏ phía bắc tiếp giáp với biển Baltic lạnh giá và kỹ nghệ làm muối khó phát triển. Từ thời trung cổ, người dân đã đi tìm những mỏ muối bên trong lòng đất để khai thác. Thời trung cổ, muối quý hơn kim cương, một bao muối 5kg có thể đổi được đất đai của một ngôi làng. Cũng chính vì muối quá đắc, cho nên chỉ có giới quý tộc, vương quyền, thương gia mới có tiền mua muối, và trong ẩm thực, nêm nhiều muối chứng tỏ đấy là thức ăn của người thượng lưu. Chủ nhân mời khách một món ăn, nếu nêm nhiều muối sẽ chứng tỏ đấy là món ăn đắc tiền. Hiện nay, giao thông đã thuận tiện, người Ba Lan có thể nhập cảng muối từ các nước khác, tuy nhiên ăn mặn đã trở thành một đặc điểm trong văn hóa ẩm thực của họ. Tại Canada, nếu chúng ta mua Polish sausage, chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng mặn, mặn không thua gì món cá ướp mặn phơi khô của miền Nam Việt Nam, sausage càng đắc tiền càng mặn là vậy.



ĐI TÌM ĐỒNG HƯƠNG
Vì thời gian không có nhiều, tôi mở niên giám thương mại của thành phố để tìm những nhà hàng Việt Nam. Trong cuốn niên giám có vài nhà hàng được giới thiệu là nhà hàng Việt Nam thuần túy bên cạnh vô số những nhà hàng của nhiều sắc dân khác. Tôi đã đi bộ gần hai tiếng đồng hồ để tìm ra được hai nhà hàng Việt Nam. Bước vào bên trong, tôi khá thất vọng vì từ các cô chạy bàn cho đến cả người quản lý đều là người Ba Lan bản xứ, tóc vàng, mắt xanh mà không gặp một đồng hương nào cả, khách hàng cũng chỉ toàn người ngoại quốc. Thức ăn Việt Nam được đem ra không còn là thức ăn Việt Nam thuần túy mà đã được thay đổi theo khẩu vị của người bản xứ, ví dụ chả giò (trên thực đơn ghi là nem rán theo cách gọi miền Bắc), nhưng nhân bên trong là khoai tây nghiền với cheese giống như nhân bánh pierogi của người Ba Lan. Tôi biết tôi chưa tìm ra đúng nhà hàng thuần Việt dành cho thực khách gốc Việt sành ăn...Hôm sau, khi rời thủ đô, tôi đã thấy hơn ba nhà hàng Việt Nam khác không có trong danh bạ thương mãi của ngành du lịch, tôi biết rằng đó có thể là những nhà hàng ngon. Đồng bào miền Bắc sống ở Warsaw rất đông, nhưng vì thời gian tôi đến đây quá ngắn, nên tôi không kịp thưởng thức những món ngon miền Bắc như bún chả, nem rán, bánh cuốn...



NGƯỜI BA LAN KHÔNG THÍCH CỘNG SẢN
Trước khi đến Ba Lan, tôi vẫn thắc mắc không biết những người vẫn tôn thờ chủ nghĩa Cộng Sản có còn nhiều ở đây hay không, và chính phủ có còn những luận điệu luyến tiếc mồ ma của thời bao cấp, Cộng Sản hay không. Đem thắc mắc và sự quan sát này đến Warsaw, tôi nhận thấy tất cả những lời thuyết minh và tài liệu chính thức của bộ du lịch gởi đến cho du khách đều cho thấy một lập trường dứt khoát với quá khứ đau thương. Ngay tại trung tâm thành phố, một đài tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản đã chết. Qua lời thuyết minh, họ là những chuyên gia, nghệ sĩ lẫy lừng của đất nước bị Phát Xít Đức giam giữ, sau khi Hồng Quân Liên Xô chiếm thành phố, chính Stalin đã ra lệnh giết chết tất cả vì không muốn phí lương thực nuôi tù, và cũng không muốn thả họ ra vì chính sách của người cộng sản cũng là tập trung, giam giữ những thành phần trí thức, không cho họ có cơ hội lãnh đạo và nổi lên chống lại. Xe dừng lại cho du khách dành một thời gian tưởng niệm, nhiều người trong đoàn của tôi có ông bà, cha mẹ từng chết trong giai đoạn này, nay họ lại là những người tị nạn cộng sản thế hệ thứ hai tại Hoa Kỳ, họ đã bật khóc nức nở khi họ trở về nguồn với một quá khứ quá đau thương.

ĐI SHOPPING
Vì Warsaw là một thành phố lớn ở khu vực Đông Âu, nơi được xem là trung tâm văn hóa, nghệ thuật như một Paris ở miền Đông. Tôi đã thấy tất cả những thương hiệu thời trang lẫy lừng của thế giới như Hermès, Louis Vuitton, Prada, Gucci, Chanel, Rolex... đều có mặt tại đây, những tiệm McDonald cũng có mặt ở khắp nơi. Tuy nhiên, những du khách đến từ Tây âu và Bắc Mỹ lại thú vị với những mặt hàng thủ công mỹ nghệ và thổ sản của người dân địa phương hơn là những thời trang xa xỉ đến từ nước khác. Tôi thấy các du khách phụ nữ luôn thích thú tìm mua những món nữ trang làm từ hổ phách, các búp bê trong trang phục truyền thống, các món hàng lưu niệm khắc gỗ, và cả rượu với rượu Vodka rất mạnh.



TỪ GIÃ WARSAW
Chỉ có vài ngày để tìm hiểu thành phố thủ đô của Ba Lan, tôi biết chưa đủ vào đâu so với một lịch sử hơn ngàn năm của họ. Đặc điểm mà du khách thật khó quên là những ngôi giáo đường với kiến trúc Phục Hưng diễm lệ, một nhịp sống đang tiến gần với đời sống phương Tây. Đất nước này đây đã đem đến cho nhân loại những nhân vật tài danh, xuất chúng như Đức Giáo Hoàng John Paul II (ngài không sinh ra tại Warsaw), nhà soạn nhạc thiên tài Chopin, nữ khoa học gia Marie Curie. Người dân ở Warsaw đã anh hùng chống lại từ Phát Xít Đức cho đến cả một hệ thống độc tài Cộng Sản Đông Âu. Nếu cuộc cách mạng không xuất phát từ Warsaw, cũng có thể sẽ là một thành phố khác, hoặc sẽ chẳng bao giờ xảy ra. Chúng ta không thể nào không xác nhận, chính người dân tại Warsaw đã là những chiến sĩ đi tiên phong, đã là nhân tố bùng phát cho cuộc cách mạng ý thức hệ, xóa hẳn dấu tích cộng sản từng có mặt ở Đông âu trong bảy mươi năm ròng. Tôi biết nhận thức, kể cả nhiều ngộ nhận của tôi đã thay đổi rất nhiều sau chuyến thăm thủ đô của Ba Lan này.

Tôn Thất Hùng

Trường giang


Sóng gợn trường giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy giòng

Bơ vơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vẫn chợ chiều
Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cần gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa
Lòng quê dờn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

(Huy Cận)

Phan Nhật Nam, kẻ phục hồi danh dự người chết

Du Tử Lê
Những năm cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, khi các mặt trận ở miền Nam Việt Nam đi tới cực độ tổn thất xương, máu, khi mỗi tấc đất miền Nam là một giải khăn tang, như ý thơ của Lâm Hảo Dũng, thì, sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam cũng bước tới cực điểm phồn thịnh. Nếu lãnh vực âm nhạc, mang lại cho miền Nam một số gương mặt mới, như Trịnh Công Sơn, Phạm Thế Mỹ, Trầm Tử Thiêng, Trần Thiện Thanh, Song Ngọc,... thì, lãnh vực văn chương cũng mang lại cho miền Nam một số cây bút thuộc thế hệ sau điểm mốc di cư 1954, như Thế Uyên, Nguyên Vũ, Cung Tích Biền, Phan Nhật Nam, Nguyễn Bắc Sơn, vân vân.
Tùy từng góc nhìn với những cảm nhận riêng tư, mỗi tác giả hiện ra, như một nạn nhân, đồng thời, chứng nhân của cuộc chiến.
Tuy nhiên, trong số những nhà văn phản ánh thời điêu linh đổ nát tận cùng này, Phan Nhật Nam là chiếc bóng tách biệt với số đông vì ông chọn con đường bút ký chiến tranh. Ngay tự tác phẩm đầu tay “Dấu Binh Lửa” in năm 1969, Phan Nhật Nam đã mang lại cho thể văn ký sự một kích thước khác, một linh hồn khác.
Ðó là kích thước của những sự kiện được ghi nhận từ tâm cảnh và tâm cảm. Ðó là sự lên tiếng một cách dõng dạc, đâu đó cho vong linh những người lính miền Nam đã chết cho tổ quốc, cho lý tưởng tự do của họ.
Với những tác phẩm kế tiếp, như “Dọc Ðường Số Một,” rồi “Ải Trần Gian” in năm 1970; “Dựa Lưng Nỗi Chết” in năm 1971, “Mùa Hè Ðỏ Lửa” in năm 1972, “Tù Binh và Hòa Bình” in năm 1974... Phan Nhật Nam, bằng trang giấy, ngòi bút và tình yêu ngùn ngụt lửa ngọn dành cho quân đội, đồng đội của mình, ông đã không ngưng nghỉ trong những trường khúc ngậm ngùi làm thắt xót ruột gan người đọc, kêu đòi thế giới trả lại danh dự, nhìn nhận chỗ đứng của những người lính miền Nam Việt Nam, trong cuộc chiến tự vệ và bảo vệ tự do của nửa phần tổ quốc Việt.
Mỗi dòng chữ ông viết xuống, mỗi thước đường quê hương ông đã đi qua, mỗi người lính ông đã gặp gỡ, đã vĩnh biệt, đều được ông ghi, nhớ với tất cả rực rỡ của lòng biết ơn chân thành, tinh thần cảm phục nghiêm cẩn - Như thể ông được sinh ra để nhắc nhở mọi người, dù ở đâu, bên này hay bên kia chiến tuyến, cách gì thì, tổ quốc Việt Nam cũng đã có những người con như vậy.
Với tài năng và trái tim nhạy cảm của mình, họ Phan đã nâng cấp thể văn bút ký, vốn từ vị trí khiêm tốn trong bậc thang giá trị văn học, trở thành một thể văn có giá trị ngang tầm với tiểu thuyết, truyện ngắn, chí ít cũng trên phương diện hơi thở của chủ, nghĩa, dữ kiện. Những mảnh đời nóng bỏng thịt, xương chiến địa, những hoạt cảnh chiến tranh đẫm, dầm tình yêu tổ quốc của những người lính miền Nam Việt Nam, nơi những ngòi bút tường thuật tầm tầm, chỉ có thể mang lại cho nó tính chất phóng sự thời cuộc. Hời hợt.
Nhưng, qua ngòi bút Phan Nhật Nam, không chỉ máu, xương người lính, không chỉ cảnh tượng chiến trường mà ngay tới những ngọn cỏ, những cục đất, những viên đá, những lũy trẻ, ngọn cau... cũng có được cho nó một sự sống, một linh hồn, một khát khao sinh tồn tới ngậm ngùi, tội nghiệp,...
Theo tiểu sử do chính ông phổ biến thì, Phan Nhật Nam Sinh năm 1943 tại Thừa Thiên, chánh quán làng Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Là cựu học sinh trường Phan Chu Trinh, Ðà Nẵng, ông tốt nghiệp khóa 18 Võ Bị Ðà Lạt, cựu sĩ quan binh chủng Nhảy Dù, 14 năm lính, 14 năm tù cải tạo, trải qua 14 hầm cấm cố tử hình nơi các trại tù từ Nam ra Bắc, năm 1989 ông mới được tạm tha.
Nếu trước biến cố tháng 4, 1975, văn chương Phan Nhật Nam là ngọn lửa ngùn ngụt của tình yêu đồng đội, tình yêu đất nước, thì, những năm tháng trong tù, theo lời kể của nhiều bạn tù thì, họ Phan lại là một trong những ngọn lửa nêu cao danh dự, tinh thần bất khuất của người lính và, cũng là kẻ sĩ miền Nam.
Cuối năm 1993, rời khỏi đất nước trong chương trình H.O., Phan Nhật Nam lại tiếp tục cống hiến cho cuộc đời, cho Việt Nam những tác phẩm như “Những Chuyện Cần Kể Lại,” viết về khổ nạn Việt Nam không dấu hiệu chấm dứt, kể từ tháng 3, 1975, “Ðường Trường Xa Xăm” “Tâm Bút Của Người Luôn Trên Ðường Ði” - Cả hai cùng được in trong năm 1985. Rồi tới thi phẩm “Ðêm Tận Thất Thanh” in năm 1997” - Là những bài thơ họ Phan viết giữa vũng tối với đêm không cùng của hơn hai mươi năm (1975-1993) nơi các trại tù Long Giao, Long Khánh, Hoàng Liên Sơn, Thanh Hóa; và “Mùa Ðông Giữ Lửa” bút ký sau ba năm ở quê người...
Dù ở điểm đứng văn chương nào, bút ký hay tiểu luận; thi ca hay tâm bút, người đọc vẫn thấy tính-chất-người-lính trong chữ nghĩa của ông. Hoặc như ông luôn tự nhận ông là “người lính viết văn.”
Với tôi, đó là một Phan Nhật Nam bất biến. Một Phan Nhật Nam nghẹn ngào trên mọi cảnh thổ, mọi đèo, dốc ngặt nghèo của dân tộc và, đất nước.
Dù đứng ở điểm đứng văn chương nào, giữa quê cha, trong lao tù, hay phơi phới tự do, quê người, người đọc vẫn thấy được một Phan Nhật Nam nhất quán với ngọn cờ phục hồi danh dự người lính miền Nam. Khản giọng khẩn thiết kêu, đòi mọi người phải mãi nhớ, phải biết ghi ơn những người đã nằm xuống cho những giá trị nhân bản muôn đời; dù cho hôm qua, họ là những kẻ thua trận. Ngay cả khi những kẻ thất trận kia, những kẻ nằm xuống nọ, đã không có được một nấm mồ, một bia mộ.
Tùy từng cảm nhận, tùy từng vị trí, tùy từng tâm cảnh mỗi cá nhân, trong hạn hẹp, phù du một kiếp, người ta có thể đồng ý, hoặc không đồng ý với Phan Nhật Nam. Nhưng bằng vào đòi hỏi công bình, khách quan tối thiểu, khó ai có thể phủ nhận tài năng, nhân cách Phan Nhật Nam. Như thể, người ta không thể phủ nhận cuộc chiến miền Nam, hai mươi năm. Bởi vì, đứng trên mọi chủ nghĩa, mọi lý thuyết, mọi chế độ, trước nhất, Phan Nhật Nam là một người Việt Nam. Kế đến, ông là một người lính. Một người lính, dù thất trận, dù đã phải buông súng, đã tù đày, nhưng chẳng vì thế mà ông quên ông là một người lính, một người lính của miền Nam Việt Nam.
Ðúng hơn, ông là người lính tiền phong của tổ quốc Việt. Cũng như trong văn chương, vì tấm lòng yêu quân ngũ, yêu đồng đội, thiêng liêng như mối tình đầu, nên đôi khi có những sự kiện, những nhân vật trong ký sự của ông được tiểu thuyết hóa phần nào... Nhưng, với tôi, ông vẫn là chiếc bóng lớn của thể văn bút ký chiến trường, 20 năm miền Nam, điêu linh.
Nhờ ông, mà thể văn này được nâng cấp. Ông cho nó một kích thước, một linh hồn khác.

30 Tháng Tư, lo trước về tương lai

Ngô Nhân Dụng
 
Chúng ta không thể tránh được, cứ đến ngày 30 Tháng Tư mỗi năm lại chợt nhớ về quá khứ. Niềm tưởng nhớ thường có trong một ngày giỗ. Mà 30 Tháng Tư đúng là một ngày giỗ. Ngoài những vị tướng chỉ huy tử tiết, như Tướng Phạm Văn Phú, Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tướng Lê Nguyên Vĩ, Tướng Trần Văn Hai, Tướng Lê Văn Hưng, Ðại Tá Hồ ngọc Cẩn, còn biết bao nhiêu các binh sĩ, sĩ quan khác cũng đã chết để bày tỏ khí tiết trong cùng một ngày. Có vị sĩ quan cảnh sát, Ðại Tá Nguyễn Văn Long đã chọn công viên Lam Sơn làm nơi thể hiện lời nguyền chết vinh hơn sống nhục. Nhiều vị sĩ quan, công chức, đã về nhà, cùng chết với gia đình. Chúng ta hướng về tất cả những anh hùng liệt sĩ đó trong ngày giỗ tập thể hôm nay.
Và nhiều chiến sĩ vô danh khác nữa. Trong ngày 30 Tháng Tư năm 1975 có nhiều nhóm quân nhân (Nhảy Dù, Bộ Binh, Thủy Quân Lục Chiến, vân vân) đã quyết định cùng chết với nhau. Họ đứng khoác vai nhau, tự sát bằng những trái lựu đạn. Họ đã lựa chọn cùng nhau thể hiện tình “đồng sinh đồng tử, huynh đệ chi binh” một lần cuối cùng, trước khi tan hàng vĩnh viễn.
Chúng ta biết những chiến binh này có thể lựa chọn cách khác. Họ có thể chiếm cứ bất cứ ngôi nhà nào bên đường, lấy đó làm nơi tử thủ. Họ có thể bắn cho hết những viên đạn cuối cùng trước khi bị bên địch hạ sát. Giống như những người lính Nhật sau cùng trong trận Iwo Jima, lấy mạng đổi mạng. Nhưng vào giây phút tuyệt vọng nhất của đời mình, những người chiến binh này vẫn chứng tỏ họ vẫn sống nền đạo lý ngàn năm của dân tộc. Họ không muốn lôi kéo thêm những người lính khác phải chết với mình. Dù vừa mấy giờ phút trước đó, nhìn chỉ thấy đó là quân địch. Vì một tấm lòng từ bi vẫn chảy trong dòng máu Việt, các chiến sĩ này đã thấy: Cha mẹ, vợ con những người lính vô danh bên kia chắc cũng đang ngóng chờ ngày họ sống sót trở về. Nhớ lại những hành động tự sát tập thể trong giây phút tuyệt vọng đó, chúng ta chợt hiểu lời nguyện mà cha ông đã để lại: “Ðem đạo nghĩa để thắng hung tàn; lấy chí nhân mà thay cường bạo” (Nguyễn Trãi, Bình Ngô Ðại Cáo). Chúng ta đều có thể hãnh diện về hành động tự sát của những người lính Việt Nam Cộng Hòa này.
Các thế hệ sau phải làm gì để những người đã chết đều không ai chết uổng? Những con người tuẫn tiết đó đều chết trong khi chiến đấu bảo vệ quyền sống trong tự do dân chủ của người Việt ở miền Nam. Từ năm 1975 đến nay mấy thế hệ vẫn tiếp tục cuộc tranh đấu thiết lập một chế độ dân chủ tự do trên đất nước chúng ta. Chúng ta đang chứng kiến nhiều bạn trẻ còn non nớt hay sinh sau ngày 30 Tháng Tư năm 75, ở trong Nam hay ngoài Bắc, đang dấn thân trên con đường đó. Họ xứng đáng là những người nối dõi khí tiết hào hùng của các tiền nhân. Những người như Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Phương Uyên, Nguyễn Ðắc Kiên, Huỳnh Thục Vy, Trịnh Kim Tiến, Việt Khang, vân vân, bị đánh đập, tù đày, gia đình bị dọa nạt, đàn áp, có bà mẹ đã tự thiêu chết; chỉ vì họ đòi phải cho dân tộc Việt Nam được sống trong tự do dân chủ. Các bạn trẻ này đã thể hiện tinh thần bất khuất của dân tộc; và cũng theo đuổi chí nguyện của những Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn, và những những tử sĩ hy sinh ngày 30 Tháng Tư năm 1975.
Trong ngày 30 Tháng Tư nhìn lại 38 năm qua, chúng ta vui mừng vì cuộc vận động tranh đấu cho dân chủ tự do ở nước ta hiện ngày càng tiến mạnh hơn và nhanh hơn. Ðảng Cộng Sản đang trên đà tan rã, không thể nào tránh được. Giáo Sư Ðào Văn Dương, một người đã hoạt động cách mạng từ trước năm 1945, thường nói với các học sinh cũ đến thăm cụ: “Các anh chị sẽ thấy, chế độ Cộng Sản sẽ chết trước mình.” Viễn ảnh đó không còn xa xôi nữa. Chế độ Cộng Sản đang trong giờ hấp hối. Cái chết này thực sự bắt đầu từ năm 1975. Ðó là thời điểm những mà những thủ đoạn lừa gạt tinh vi nhất của đảng Cộng Sản bắt đầu bị lộ diện; và càng ngày càng đưa họ xuống dốc.
Từ năm 1945, đảng Cộng Sản đã núp dưới chiêu bài dân tộc để lôi cuốn nhân dân. Họ núp dưới danh nghĩa “chống Mỹ cứu nước” để đẩy bao nhiêu thanh niên miền Bắc vào chỗ chết. Trong khi mục tiêu chính của họ là bành trướng một chủ nghĩa, một chế độ chính trị. Công cuộc bành trướng đó do Nga Xô và Trung Cộng lãnh đạo; còn nuôi tham vọng sau khi chiếm được toàn thể Việt Nam rồi sẽ nhuộm đỏ vùng Ðông Nam Á rồi lan khắp Châu Á và thế giới. Ðảng Cộng Sản đưa dân tộc Việt Nam ra hứng bom đạn trong cuộc tranh chấp giữa hai khối tư bản và cộng sản. Họ có vẻ hãnh diện về vai trò tiên phong này. Lê Duẩn nói: “Ðánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc.” Năm 1976 Phạm Văn Ðồng tới một hội nghị các nước Á Phi còn dạy chính phủ các nước khác rằng họ chưa thực sự độc lập, chưa thoát khỏi chế độ thực dân. Ông nói: “Chỉ khi nào theo chủ nghĩa xã hội thì mới thực sự độc lập,” khiến các người tham dự rùng mình.
Khi chiến tranh chấm dứt năm 1975 thì đảng Cộng Sản Việt Nam không thể dùng chiêu bài yêu nước như trước nữa. Không thể dùng khẩu hiệu “chống Mỹ” để biện minh cho các chính sách độc đoán và sai lầm làm dân ngày càng nghèo đói. Ðảng Cộng Sản để lộ bộ mặt thật của họ, là một guồng máy chuyên chế, tham nhũng và bất lực trước các vấn đề hiện đại hóa đất nước. Người dân Việt cũng có dịp so sánh hai chế độ ở miền Nam và Bắc, trước năm 1975. Nhiều nhà trí thức miền Bắc nhìn thấy những dấu vết của một xã hội tự do ở miền Nam, mặc dù chưa hoàn hảo nhưng vẫn còn dễ thở hơn ở miền Bắc. Một cậu bé năm đó 13 tuổi ở Thanh Hóa, sau cũng nhận ra khi nói “Giải phóng” thì phải thấy chính miền Nam đã giải phóng miền Bắc! Trước năm 1975 ông Nguyễn Văn Thiệu bảo: “Ðừng nghe những gì Cộng Sản nói...” Sau năm 1975 người đầu tiên nhìn ra lời đó đúng, là ông Trương Như Tảng, một Việt Cộng thứ thiệt. Thấy rồi, ông ta cũng tìm đường vượt biên. Sự sụp đổ của các nước Cộng Sản ở Âu Châu càng giúp người Việt Nam thấy rõ cả của chế độ mà Hồ Chí Minh đã gây dựng lên theo kiểu mẫu ông học ở Nga Xô chỉ tàn hại đất nước. Nhưng chưa bao giờ dân Việt Nam chán ngán và thù ghét chế độ cộng sản như bây giờ. Ðúng vào lúc chế độ đó đang lúng túng. Không những không biết lần mò ra đường nào để giữ cho đời sống kinh tế của nhân dân phát triển, mà họ còn không biết có cách nào để giải quyết những tranh chấp quyền lợi bên trong với nhau.
Nhưng chúng ta phải lo lắng trước, khi nhìn thấy tình trạng đảng Cộng Sản tan rã. Không thể đứng chờ và chứng kiến, không lo lắng. Những liệt sĩ Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn đã được huấn luyện với khẩu hiệu: “Lúc bình an phải lo trước cơn nguy biến sẽ tới” (cư an, tư nguy). Bây giờ là lúc thể hiện châm ngôn đó.
Chế độ Cộng Sản thế nào cũng tàn tạ. Giống như một trái cây chín rồi, tự nó sẽ rụng. Giới thanh niên, trí thức trong cả nước đang rung cây cho trái rụng càng sớm càng tốt. Ðiều đáng ưu tư của dân tộc bây giờ không còn là lo chấm dứt chế độ tham nhũng bất công đó. Ðiều cần lo ngay tự bây giờ, là sau khi chế độ này tàn thì dân tộc Việt Nam xây dựng lại đất nước ra sao?
Trước hết, làm sao cho tiến trình dân chủ hóa được thực hiện mà không vấp phải những chướng ngại, như đã từng diễn ra ở nhiều nước đã trải qua kinh nghiệm chuyển từ độc tài hay chuyên chế sang chế độ dân chủ? Trong múc này tuần trước, chúng tôi đã trình bày trường hợp Bulgaria, một chế độ Cộng Sản đã “tự đảo chính,” một ngày sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Ðảng Cộng Sản đã sửa Hiến Pháp, chính họ xóa bỏ điều số một (giống như điều bốn trong Hiến Pháp Việt Nam bây giờ) giành độc quyền cai trị cho đảng. Họ tự đổi tên, tổ chức bầu cử tự do, và thắng cử. Ở Rumania cũng vậy, chính các lãnh tụ Cộng Sản đã giết vợ chồng Nicolae Ceausescu để chạy theo các cuộc cách mạng 1989 ở Ðông Âu. Nhưng họ đã hành động chỉ để cướp lấy ngọn cờ cách mạng, để duy trì cả hệ thống quyền hành và tiếp tục trục lợi.
Thủ đoạn “tiếm danh nghĩa cách mạng” và “tiếm quyền cai trị” đã từng được đảng Cộng Sản Việt Nam sử dụng lành nghề, trong năm 1945. Nhưng đó cũng chỉ là một, trong nhiều mối nguy mà tiến trình dân chủ hóa có thể vướng mắc, cần phải biết để tránh vết xe đổ. Tại một nước đã chuyển từ độc tài quân phiệt sang dân chủ tự do như Chile, tiến trình dân chủ hóa đã bị cản trở trong 15 năm vì ngay từ đầu các nhà tranh đấu dân chủ đã nhượng bộ quá nhiều khi thương thuyết cuộc chuyển giao quyền hành với Tướng Augusto Pinochet. Tại những nước như Nga, Ukraine, tiến trình dân chủ hóa vụng về, để cho một số người tập trung các nguồn lợi kinh tế vào trong tay. Những nhà tư bản độc quyền này đã dùng tiền bạc chi phối và “tiếm vị” thao túng cả guồng máy nhà nước. Ngay tại những nước dân chủ hóa thành công nhất, như Ba Lan và Tiệp Khắc, thái độ “dửng dưng với chính trị” của những nhà lãnh đạo như Walesa, Havel, đã tạo ra một khoảng trống chính trị khiến nhiều vấn đề của quốc gia không được giải quyết sớm bằng các định chế và thủ tục dân chủ. Một hậu quả dễ thấy nhất, là nước Tiệp Khắc đã phải chia đôi, thành Cộng Hòa Tiệp và Slovac, mặc dù vào lúc quyết định chia đôi đó, dân chúng cả hai miền đều muốn giữ thể chế liên bang (trên 54% ở cả hai vùng).
Dân chủ hóa là một con đường đầy trông gai, một dòng sông có nhiều mỏm đá ngầm. Ngày 30 Tháng Tư này, chúng ta cần suy nghĩ ngay về vấn đề đó, để chuẩn bị tương lai một nước Việt Nam tự do dân chủ. Ðó là một cách đền ơn nghĩa những người đã chết trong ngày 30 Tháng Tư năm 1975 trong khi đang tranh đấu bảo vệ một mảnh đất tự do của nước Việt Nam.